


Nhà văn Văn Thành tại buổi kết nạp Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.
Nhà văn Văn Thành là một cây bút trưởng thành từ thực tiễn chiến tranh và đời sống lao động sau chiến tranh.
Tên khai sinh của ông là Bùi Văn Thành, thường ký bút danh Văn Thành, sinh ngày 05/8/1954, quê quán Hải Dương, nay thuộc Hải Phòng. Năm 1972, khi vừa tròn 18 tuổi, ông nhập ngũ và trực tiếp chiến đấu tại chiến trường Trị – Thiên – Huế, một trong những chiến trường ác liệt nhất thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, năm 1978 ông xuất ngũ và chuyển sang công tác tại Ngân hàng Nhà nước tỉnh Hà Bắc.
Gắn bó với văn chương từ trải nghiệm đời lính và những năm tháng công tác, đến năm 1999 ông chính thức gia nhập Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bắc Giang. Văn xuôi của Văn Thành giàu chất hiện thực, đậm tình đồng đội, nhân văn và lắng sâu những suy tư về con người trong và sau chiến tranh.
Các tác phẩm tiêu biểu của ông gồm:
•Lát nữa trời bình minh (tập truyện ngắn, NXB Văn học) – Giải thưởng VHNT Sông Thương lần thứ VI (2019-2020)
•Sơn dương trắng (tập truyện ngắn, NXB Dân Trí, 2018)
•Đồng đội (tập truyện ngắn, NXB Văn học, 2018)
•Thư ở cuối chân trời (tập truyện ngắn, NXB Dân Trí, 2023) – Giải B của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam
Với bút lực bền bỉ và phong cách viết chân thành, giản dị mà sâu sắc, nhà văn Văn Thành đã góp phần khắc họa sinh động số phận con người Việt Nam qua chiến tranh và thời hậu chiến, để lại dấu ấn riêng trong dòng chảy văn xuôi đương đại. Ông có nhiều truyện ngắn được tuyển chọn vào số những truyện hay của năm đăng trên báo chí văn nghệ địa phương và trung ương.
Trân trọng giới thiệu 2 truyện ngắn của nhà văn Bùi Văn Thành (Văn Thành)
SÔNG LỤC CHẢY XUÔI
Truyện ngắn của Văn Thành
Một lần khoác túi đi về đến cổng làng, tôi nghe trong làng có tiếng kèn trống. Chặn một người đi đường để hỏi, tôi chặn đúng anh bạn học thời vỡ lòng. Anh ta bảo rằng: "Chú Nhận mất rồi”. Thấy tôi giật mình, anh chép miệng: "Chiều đưa ra đồng! Khổ lắm… chả biết kiếp trước có tội gì mà như bị giời đày. Hâm lắm! Hâm cho đến lúc chết mày ạ”. "Thỉnh thoảng "ngài” vẫn vi hành chứ?” "Vưỡn!” Rồi hắn lại nói: "Lúc gần chết, vẫn còn nói rằng đừng chôn mình trong bãi tha ma của làng, cứ chôn ở bờ sông… khổ thế chứ. Thật chả giống ai”…
Tôi là trai làng nhưng lấy vợ và ở trên thành phố. Bận bịu với công việc làm ăn nên cũng ít về làng. Mỗi bận về đây, bao giờ tôi cũng có cảm giác háo hức như thể lại được khám phá điều gì đó về chính nơi mình gắn bó suốt tuổi thơ. Hôm ấy, vài dự định bị gác lại, tôi không về nhà mình mà đến ngay đám ma chú Nhận. Trong xóm, ngoài làng người đến chật cả sân. Nhìn gia cảnh của chú, hiếm ai không xót xa.
Chú Nhận với tôi chẳng họ hàng gì, nhưng là hàng xóm khá thân thiết với thầy u tôi. Chú cũng chẳng có họ hàng với ai trong làng. Một thân một mình, chú đến làng tôi ở từ khi còn là thanh niên, đến nay tuổi chú chắc cũng ngoài bảy mươi. Hồi bé chúng tôi đã nghe nói chú Nhận quê ở tận trên xứ Bắc xa xôi. Cha mẹ chú đã mất. Chú bơ vơ, lưu lạc đến đây.
Kể rằng thuở hòa bình mới lập lại, những người bỏ làng tản cư lục đục tìm về làng cũ. Làng tôi bấy giờ trông như một bãi đất hoang với vài cái chòi coi vịt bên bờ sông. Ngoài hai cái nhà ngói đã bị đập phá chỉ còn vài đống gạch vụn, cả vùng là một bãi bùn đất nhão nhoét. Mọi người tìm về nhà cũ, bắt tay sửa lại. Tuy vất vả nhưng cũng rất vui, vì hòa bình đã về, không sợ Tây Tàu nữa. Ở làng bỗng xuất hiện một người thanh niên gầy gò, cao lêu nghêu nhưng khỏe mạnh và vui tính, đó là Nhận. Nhận đi ngang qua đây, thấy dân làng vất vả, liền ở lại làm giúp cho làng, Nhận đến hộ từng nhà, chỉ cần ăn cơm chứ không đòi tiền công. Không ai ngờ chú Nhận rất thạo việc, làm gì cũng khéo léo, gọn gàng. Chẳng bao lâu sau, bộ mặt của làng cũng đổi thay, ngăn nắp với những mái nhà tre lợp rạ xinh xắn. Thấy việc trong làng đã vãn, Nhận định xách nải ra đi. Các cụ hỏi đi đâu thì Nhận lừng chừng không nói chỉ giơ ra tấm thông hành để chứng minh là người đàng hoàng, có quê quán, có biết chữ Quốc ngữ và làm hàng nan. Nhưng hỏi chú đi tìm ai, ở đâu thì Nhận chỉ một mực nói tìm người nhà rồi im lặng. Người làm trưởng làng thấy thế cũng không hỏi thêm nữa, bèn bàn với các cụ cao tuổi bảo Nhận nếu muốn thì cứ ở lại. Làng khi ấy chưa có thầy dạy chữ. Chú Nhận mừng lắm, sau làng lại cắt cho Nhận một khoảng đất ở gần bờ sông làm nhà. Chú thành người làng tôi như thế. Từ đây, chú Nhận trở thành người bảo học cho trẻ con. Ngoài ra còn có nghề đan sảo, rổ rá cho làng và ăn công điểm của hợp tác xã. Chú có một ngôi nhà hai gian một chái sạch sẽ cạnh bến sông. Vốn hay chữ Nho và giỏi chơi cờ nên lúc nào nhà cũng có khách.
Khi này, người ta bỗng nhận ra hình như đời riêng của Nhận có vấn đề? Họ đặt câu hỏi về thân phận, gia cảnh. Nhận không phải diện xấu trai, hay lười nhác. Ngược lại Nhận rất hiền lành, khéo tay chịu khó lại cũng khỏe mạnh. Sao chú không lấy vợ. Hay có rồi thì vợ con ở đâu? Ở làng quê như thế. Từ đây, chú Nhận trở thành nạn nhân, thành con mồi cho sự soi mói, đàm tiếu của người làng. Cách sống thân thiện, trầm tĩnh của chú làm nhiều cô, nhiều chị đem lòng yêu trộm, nhớ thầm. Phụ nữ ở đây một khi đã thích ai thì họ cũng lắm chiêu trò. Cô thì nhờ người đánh tiếng. Chị thì làm như vô tình ghé vào chơi, bắt chuyện, rồi cho mượn tiền, cho vay gạo… Có chị còn đến tận nhà vào lúc giữa trưa, nửa đêm, để gạ gẫm. Nhưng Nhận như vô tình hoặc lòng gang dạ đá. Chú một mực chối từ hoặc khéo léo tìm cách lảng tránh. "Như thế đích thực có vấn đề rồi! Cỗ mang đến tận mồm mà còn chê thì đúng là một thằng dở hơi”… Vả lại, một khi ai đó dám từ chối cánh phụ nữ, hoặc làm họ mếch lòng, thế nào cũng phải trả giá đắt. Thế là cánh phụ nữ trong làng rúc rích thì thào rằng: "Tay Nhận hâm hấp, hoặc hình như ái nam, ái nữ. Còn có tin khẳng định rằng đã nhìn thấy rõ ràng hắn không có "cái ấy”… Sau nói thẳng ra rằng là tay Nhận bị Tây mũi lõ xẻo mất chim rồi”. Có dạo trẻ con trong làng được người cho kẹo, sai cứ chiều chiều thì kéo đàn kéo lũ, lít nhít đến trước cửa nhà Nhận. Nó đếm một, hai, ba rồi đồng thanh réo lên. Gào réo xong, chúng cười ré lên và ù té chạy. Hẳn lũ trẻ tưởng Nhận sẽ cầm roi mà đuổi để vút cho lằn đít. Nhưng chẳng ai ngờ, chú Nhận chỉ lặng im đôi lúc còn mỉm cười.
Bôi nhọ, tung tin vịt mãi chỉ mỏi mồm. Trẻ con bị cha mẹ mắng cũng không dám "gào thuê” nữa. Mọi việc lại như xưa. Nhưng rõ ràng chú Nhận vẫn có những điều bất thường gây cho người ta, kể cả không muốn cũng phải tò mò. Đó là cứ đôi tháng, hoặc một năm vài lần, Nhận ta vun vén tiền nong, gửi nhà cửa rồi ra đường vẫy xe xuôi ngược đâu đó vài hôm. Sự việc không giấu được mắt thiên hạ. Hóa ra bấy nay chú Nhận vẫn đi tìm vợ. Nói rằng: "Có vợ rồi à? Thế thì hẳn có cái tật gì đó nên vợ nó bỏ nó đi, giờ phải đi tìm”.
Từ Bắc xuống Đông, biết bao nhiêu đường đất. Bao nhiêu là sông suối, bao nhiêu là làng mạc. Chiến tranh nó làm biết bao người lưu lạc, bao người bỏ cửa bỏ nhà, xác thân nằm nơi đất khách, quê người. Người mất, người còn. Giả như vẫn còn sống mà không biết quê quán thì tìm sao được. Mò kim đáy biển bao giờ mới nên… Nhưng dù ai nói thế nào mặc lòng, chú Nhận không hề lay chuyển. Cứ có điều kiện là chú lại ra đi, sau lại trở về sống trong lặng lẽ. Chuyện vợ con ai hỏi hay mối lái, chú cũng chỉ cười.
Thỉnh thoảng chú vẫn đến nhà tôi cạp lại cho u tôi rổ rá cũ và đàm đạo chữ Nho với thầy tôi. Thầy tôi khen chú giỏi chữ Nho, lại sống có cốt cách làm người. Chú thường nói với cánh trẻ chúng tôi rằng học càng nhiều càng tốt. Chữ chẳng ai học được hết. Nhưng học làm người mới khó. Người ta chỉ cần học lấy một chữ như: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín… mà sống trọn vẹn âu cũng là người tốt, là bậc quân tử rồi!
Một đêm thầy tôi bảo u tôi: "Nhà cứ ở lại trông con, tôi phải đi cùng Nhận một chuyến”. U tôi gật đầu và dậy nấu cơm nắm với muối vừng cho thầy cùng chú Nhận đi.
Chuyến đi ấy hai người đi lâu lắm. Có lẽ dài đến nửa tháng trời mới về làng. Thầy tôi về mặt mày đen cháy, vêu vao nằm vật ra, không ăn uống gì. U tôi hỏi cũng không nói, chỉ thở dài. Nhưng hôm sau thầy tôi vùng dậy, bảo u nấu cơm rồi sai tôi đi mời chú Nhận.
Tôi chạy đến nhà chú.
Tôi kinh hãi không nhìn thấy chú Nhận ở nhà, chỉ thấy một ông cụ già tóc bạc, lọm khọm đang phủ phục trước một mâm lễ khói hương nghi ngút. Bây giờ tôi mới nhận ra đó là chú Nhận. Tay chân chú run run, mắt chú vô hồn đang nhìn vào làn khói hương nghi ngút. Chú cứ đứng thẳng, cúi, rồi chổng mông trước mâm lễ ấy. Tôi sợ hãi, đực mặt ra không dám gọi. Rồi chú bỗng ngẩng đầu lên, mếu máo cất lên một giọng nói trầm trầm đau đớn.
"Hảo ơi! Ới Hảo ơi… Giờ Hảo ở đâu… bao năm qua tôi đi tìm Hảo từ Bắc xuống Đông, sao mà không thấy. Ới Hảo ơi”.
Tôi sợ quá, định quay đầu chạy thì thấy thầy u tôi đã đứng sát cạnh tự bao giờ. U tôi nước mắt lưng tròng, ôm chặt lấy tôi, trong khi thầy tôi chạy tới đỡ chú Nhận, nhưng chú gạt tay ra, bưng mặt khóc hu hu.

Tranh của họa sĩ Văn Tĩnh
Kể rằng, chú Nhận người gốc ở Bàn Than phố nơi thượng nguồn sông Lục. Đây là một con sông đẹp nhất thế gian. Nước sông Lục muôn đời trong vắt và ngọt lịm như thể được pha với mật ong rừng. Hai bên bờ nương rẫy trù mật trải dài, nối với những cánh rừng già cây cối um tùm, mát rượi. Đây là nơi cư ngụ an toàn cho muông thú sinh sôi. Sát mặt nước kéo dài cả trăm dặm đất với hai bờ cát vàng như đường mía cùng vô vàn đá cuội tròn vo, nhẵn thín tựa trứng gà. Cá sông Lục béo và nhiều vô kể. Mùa nước tháng Ba vào kỳ sinh nở, chúng kéo nhau rạch lên bờ cát nhung nhúc như đợi người đến bắt mang về. Cá từ biển cũng theo thủy triều mà ngược lên đây. Những cá nục, cá măng, cá thu, cá cháy… Mùa đến, người ta đốt những đống lửa gỗ dẻ đỏ để nướng cá. Những kẹp cá cháy lớn nhỏ đầy từng sọt, từng gánh. Con nào cũng lặc lè trứng, rồi nướng qua trước khi gánh lên chợ bán. Mùi cá cháy nướng béo ngậy, thơm váng một vùng rừng đông bắc.
Các sản vật vùng đông bắc như gỗ, dược liệu, tre nứa theo dòng sông Lục, xuôi về Bàn Than phố đậu lại để về xuôi. Từ khắp các bản làng, nông thổ sản cũng theo đường to, đường nhỏ, trên vai người, vai ngựa… những mật ong rừng, gạo nếp nương, thú nuôi, thú rừng… cứ theo chợ phiên ở Bàn Than phố, sau đó chất lên các thuyền to, thuyền nhỏ đã giăng buồm đợi sẵn, chỉ cần nhổ neo là vun vút về miền xuôi. Để đổi lấy những sản vật từ đông bắc, người miền xuôi cũng chở lên mạn ngược vải vóc, dây đay, cá tôm, nước mắm, muối trắng… Với Bàn Than phố, cứ mỗi phiên chợ năm ngày là một ngày hội.
Chiều hôm trước là ngày chợ áp phiên. Hai bên bờ sông, thuyền từ Thái Bình, Hải Phòng, Hải Dương… đã đậu nườm nượp, hàng bốc suốt cả đêm. Trai miền xuôi ăn vận gọn gàng, gái miền xuôi cô nào cũng đẹp. Như để nghênh tiếp họ, người miền núi cũng trên lưng ngựa, xe kéo, đi bộ kéo về chật các nhà trọ, các khu đất rộng ven sông. Họ tràn vào các quán phở chó, phở gà, bánh cuốn, tiết canh lòng lợn… của các chủ người Việt, người Hoa đã mở cửa, mùi xào nấu thơm lừng. Hàng ăn vùng cao vừa rẻ, vừa ngon. Ăn uống no say, tối đến họ đốt các đống củi lớn, ngồi quanh đó trò chuyện rồi hát cho tới sáng.
Chú Nhận sống ở giữa Bàn Than phố.
Cha chú là một thầy đồ Nho. Mẹ làm nghề đan lát. Mẹ chú mất khi chú còn nhỏ. Thương con nên thầy đồ sống vậy mà không tục huyền. Bấy nay, cha con ông đồ Nho không sống bằng nghề dạy chữ mà bằng nghề đan lát của vợ nên dù ở chốn sầm uất giữa Bàn Than phố họ vẫn nghèo. Một ngày, cụ đồ đổ bệnh nặng, chàng thư sinh Nhận phải một mình đan thúng, đan rổ để sống cùng thuốc thang cho cha. Sát cạnh nhà chú Nhận là nhà một chủ buôn trầu vỏ, thuốc lào. Mỗi phiên chợ, người miền xuôi lên ngủ lại rất đông. Có cô gái trẻ đi gánh trầu vỏ thuê ở nhờ nhà đó hay ngó sang. Nhìn cảnh ấy, cô gái mủi lòng cho chàng trai trẻ nên thường ghé sang. Lúc đầu là hỏi thăm, sau là giúp hộ nồi cơm, ấm nước, quét hộ cái sân. Sau này, khi từ miền xuôi lên, nay cô cho chai mắm, lúc đồng quà, tấm bánh. Khi cần thì giở hầu bao không do dự. Thật là trời xui, đất khiến. Một ngày chàng nhận ra Bồ Tát ở ngay trước mặt, nên ngỏ lời cầu xin: "Đã thương thì thương cho trót”… Nàng lặng lẽ gật đầu. "Sao đằng ấy trẻ, đẹp thế mà không chê tôi”. "Em cũng con nhà nghèo, nên thấy người cùng cảnh thì thương”. "Học trò này vụng dại, xin đừng cười chê”. "Nhưng đất nước còn đao binh, nếu chẳng may vì cơn loạn lạc mà phải xa mặt, xin chớ cách lòng.” "Vậy hãy nhớ cho: Khi nào nước sông Lục còn chảy về biển thì xin còn nhớ nhau, thế thôi”. "Xin vâng”.
Một ngày, ông thầy đồ mỉm cười khi ăn được đôi lưng cháo, rồi nhỏm dậy tựa lưng được vào tường. Đôi bạn trẻ vui như tết. Nàng nói rằng mai sẽ theo thuyền về xuôi thưa cùng thầy mẹ rồi khăn áo lên đây theo chàng. Hôm ấy xong việc nhà, họ rủ nhau vào rừng dã hương, một cánh rừng nhỏ sát Bàn Than phố, bên sông Lục để ngắm trăng, cũng là đêm giã biệt hẹn ngày tái ngộ.
Đây là cõi tiên của Bàn Than phố.
Khi này trên trời là trăng. Dưới trăng là những tán dã hương đung đưa tỏa mùi thơm nức, lung linh và rì rào soi bóng trên miền cỏ rối bạt ngàn, êm ái và mượt như nhung. Phía sau rừng dã hương là núi Đồn cổ tích. Xa xa là ngôi giáo đường nhỏ, nơi đây có tượng Đức Mẹ Maria hiền hậu, bao dung.
Phía trước là gió. Gió nam được thổi về từ ngọn núi có tên Am Vãi. Nơi xưa có vị vua đã từ bỏ ngai vàng đi qua đây, lên đỉnh cao Yên Tử ăn măng tre trúc để tu thân. Từ rừng dã hương có thể nhìn ra bốn phía. Phía đằng đông là biển, phía nam, phía tây, phía bắc là rừng… và xa hơn nữa là vũ trụ. Giờ đây ngay dưới cánh rừng về khuya là rì rào sông Lục. Sông bao đời nay vẫn thế. Thì thào và nhẫn nại. Lên cao và xuống thấp theo mỗi đợt thủy triều. Dưới trăng, sông Lục sâu và rộng đến không ngờ. Từ dưới mặt sông tối thẫm và ướt át, những cột buồm mốc meo lừng lững vươn mình. Nước róc rách oàm oạp vỗ vào mạn thuyền không nghỉ như hơi thở của đôi trẻ bên nhau. Chẳng biết từ bao giờ họ xích lại gần nhau. Gần hơn nữa. Tiếng thì thào lặng đi bởi mùi dã hương bỗng thơm lừng. Mùi da thịt non khát khao… Chẳng kìm nổi hoặc chẳng cưỡng nổi khúc động tình. Tay tìm tay. Môi tìm môi. Tay cần tay. Môi cần môi. Da thịt mới nóng bỏng, thơm tho da diết tìm da thịt. Hổn hển và ngượng ngùng. E ngại mà tự nguyện. Tiếng giun dế lừng vang như lặng đi… Gió đằng nam bỗng nấc lên, lật tung ngàn tán lá. Thế gian sõng soài, lồ lộ dưới ánh trăng. Gió bỗng thổi nhanh, thổi gấp. Gấp hơn nữa rồi bất ngờ chững lại, hân hoan thở dốc… đôi trẻ trao nhau trái ngọt đầu đời.
Nàng đã về xuôi. Nhưng Bàn Than phố cứ chờ đợi mãi, chẳng thấy người trở lại. Vài tháng sau, cụ đồ mở mắt nhìn con trai lần cuối, rồi lặng lẽ ra đi. Chiến sự nổ ra khắp vùng, con đường sông lên xứ Bắc bị cách ngăn. Dân ở Bàn Than phố rục rịch tản cư vì giặc giã. Một dải sông Lục mênh mang vắng lặng, buồn hiu.
Sau này, trong những cơn mê sảng nhọc nhằn, chàng vẫn gặp nàng ở đâu đó rất gần với khu rừng dã ở Bàn Than phố, hoặc cũng có thể là trên những doi cát vàng bất tận bên sông Lục. Hôm ấy, nàng mặc chiếc váy cũ cùng chiếc áo cánh nhuộm nâu. Nhận ra nàng, chàng sung sướng cất tiếng gọi, nhưng nàng dường như không nghe thấy. Như tìm cách lẩn tránh, nàng quay mặt bước đi. Chàng vừa gọi, vừa chạy đuổi theo, nhưng không kịp. Chàng kinh hãi vì không hiểu điều gì xảy ra khiến nàng như vậy. Từ dạo quen biết nàng đến nay, hằng đêm đến trong đầu chàng vẫn hiện ra mồn một dáng đi, giọng nói… Khuôn mặt rạng rỡ với nụ cười khiến chàng mụ mị. Bàn tay nàng nhỏ bé, xanh xao. Bàn chân nàng lấm láp, đen đủi tảo tần. Vậy mà với chàng thì từ mái tóc cháy nắng, đến tấm thân nàng sao yêu kiều, mềm mại, thơm tho. Đôi bầu vú nàng mơ hồ, nhỏ nhắn cùng cặp đùi dế trắng như ngọc… chàng làm sao quên được. Thế là chàng đuổi theo. Nàng đã ở ngay trước mặt. Tay chàng đã chạm vào vạt áo nàng, nơi vương mùi mồ hôi quen thuộc hôm nào làm chàng thèm khát đến cuồng điên.
Chỉ một bước rướn nữa thôi… nhưng. Chiếc váy màu xanh đã được buộc lên kiểu quai cồng, để đôi chân được tự do. Nàng co cặp giò nhỏ nhắn như cặp chân nai. Men theo bờ nước, men theo dải cát vàng, men theo làn sương trắng mờ đục, nàng chạy thốc lên phía trước như một làn gió. Chàng cứ đuổi và nàng cứ chạy. Nàng chạy băng băng qua những cánh rừng già, rừng non, những thôn làng loi thoi, xơ xác ven sông. Chỉ một bước nhún chân, nàng băng qua Bàn Than phố, qua thác Lay, bến Bò, bến Cẩm La, bến Cẩm Y hướng về phía Lục Đầu Giang, nơi hội tụ nước của sáu con sông, sau cùng xuôi về biển lớn.
Chỉ một bước chân, nàng chạy băng qua thân phận mình. Thân phận nữ nhi đất Việt đang bị tròng trên cổ chiếc ách của lễ giáo hủ bại cả ngàn năm. Đó là sự hà khắc của gia đình, sự trừng phạt bằng nhục hình, đòn roi và mạng sống. Nhưng bằng một bước nhún chân thật diệu kỳ. Không do dự, nàng thò tay vào ngực mình, cầm lấy trái tim. Trái tim của nàng nhỏ bé mà nhân hậu như thể trái tim của một nàng tiên. Và nàng dâng cho bạn mình trọn vẹn trái tim của tuổi yêu còn ròng ròng máu nhỏ.
Trong chớp mắt, cũng bằng một cái nhún chân dường như của định mệnh, nàng khuất dạng giữa cuộc đời như một vệt sao băng. Có thể nàng đã lẩn vào làn nước sông Lục trong xanh, muôn đời xuôi về biển. Hoặc giả thân xác nàng đã hòa vào làn sương lãng đãng trên những cánh rừng già, những đỉnh núi mù sương. Cũng có thể nàng đã khuất vào những đám mây đen kịt bùng lên trên mặt đất. Đó là những làn khói của bom đạn lan tràn trên khắp quê hương đất Việt. Thân xác nàng đã hòa chung trong lớp tro bụi của chiến tranh.
…
Thể theo nguyện vọng, quan tài chú Nhận được các cụ cho đặt ở bên sông. Ngôi mộ của chú nằm trên một doi đất hoang ít khi có người qua lại. Thời gian đầu còn có vài người lai vãng. Nhưng năm tháng trôi đi, ngôi mộ bị lãng quên nên cỏ lác cùng cây xấu hổ, cây bìm bìm mọc kín, đi trên đường không nhìn thấy nữa. Nhưng vạt đất ấy vẫn có trong sổ bộ đất, tên là: "Khu mả ông Nhận”.
Ít ai ngờ vào một ngày cuối năm, người làng thấy có toán người đến lúi húi ở đó. Vài ngày sau thì thấy mộ chú Nhận đã được xây trát khang trang, ốp đá trắng tinh. Hỏi thì người ta nói chỉ biết có mấy người từ xa đến tìm chú, họ hương khói và cho tu lại mộ phần.
Còn nhớ hôm chú Nhận mất, khi mở công khai rương hòm của người đã khuất, ngoài vài thứ vặt vãnh, người ta còn tìm thấy một vật được cất giữ rất cẩn thận. Theo lệ ở làng, họ đặt vật ấy vào trong áo quan của chú. Đó là một chiếc túi vải nhỏ, bên trong có mấy tờ tiền Đông Dương, một chiếc yếm của phụ nữ cùng một lọn tóc mềm cháy nắng vàng hoe.
LŨ TIỂU MÃN
Truyện ngắn của Văn Thành
Chiếc thuyền nổ máy xình xịch, rẽ nước tiến vào hồ Cấm. Nắng vàng rực rỡ khắp mặt hồ. Làn nước xanh biếc xôn xao theo từng làn gió mát rượi. Hồ Cấm ngày cuối thu đẹp ngỡ ngàng. Thao cố ý chọn cho mình một chỗ ngồi cuối con thuyền, anh chỉnh lại cặp tai nghe để giảm đi tiếng động cơ rền rĩ cùng với tiếng cười nói ran ran của đoàn du khách trên thuyền. Anh muốn được yên tĩnh giữa mặt hồ, nơi mà đã lâu anh không đến. Đúng hơn là từ lúc trở lại hồ Cấm, trong anh bỗng dâng trào cảm giác thật khó tả. Đó là cảm giác của kẻ vô tình. Bởi vì anh chính là đứa con được sinh ra, lớn lên bên hồ Cấm. Nơi đây trước mặt anh, đảo to nhỏ nhấp nhô, những cánh rừng bạt ngàn bên các bản làng quá đỗi thân quen. Trên nương cao, ruộng vẫn thấp thoáng bóng áo chàm lam lũ của vùng cao. Xa hơn một chút là đèo Quao dốc ngược dưới chân núi Ba Hòn cao vút, quanh năm ngủ vùi trong mây trắng. Ở nơi đây, mồ mả của ông bà, cha mẹ và bao người thân vẫn nằm đó. Hồ Cấm từ thuở ấu thơ vẫn biếc xanh, vẫn vời vợi... mênh mông.
Một ngày, Thao theo cha bước xuống chiếc thuyền gỗ. Nhìn đồ đạc, nông cụ trên thuyền, Thao biết cha con anh sẽ sang đảo Chè, một đảo nhỏ giữa hồ. Cha anh vừa đẩy thuyền vừa nói: "Sắp đến lũ tiểu mãn rồi, đi hái búp chè và thu bắp ngô thôi! Mày ngồi cho vững kẻo lật thuyền đấy”. Cha nhắc để mà nhắc chứ cũng biết thừa anh là tay chèo cứng, mới hơn chục tuổi đầu đã dám một mình trên thuyền mủng đi rải lưới cá hàng đêm. Hôm ấy dáng điệu cha anh vui lắm chứ không lầm lì như thường ngày. Cha là một người đàn ông miền núi điển trai lực lưỡng, vâm vóc. Cặp mắt ông, nhìn thẳng vào người tiếp chuyện. Hình như trong ấy đong đầy những khao khát... tất nhiên là sau này Thao nhận ra cặp mắt ông lại như chất chứa một nỗi niềm u uất! Ông cầm đôi mái chèo nhẹ bẫng như một thứ đồ chơi. Chỉ với vài lần khuấy nước, con thuyền vun vút lao đi. Từ bến nhà đến đảo Chè chèo chậm cũng chỉ hơn một giờ đồng hồ. Nhưng nhìn vào những xoong chảo, gạo muối và chăn màn... Thao hiểu rằng dạo này mế phải ở nhà trông em bé. Anh sẽ cùng cha ở lại trên đảo ít ngày.
Gọi là đảo nhưng thực ra chỉ là ngọn một quả đồi. Nơi đây xưa là bản của người Nùng cũng có tên là bản Chè. Trên đỉnh đồi có một cây chè cổ do các cụ nhà Thao chăm sóc và thu hoạch. Những năm giữa của thế kỷ trước, khi làm đập hồ Cấm, nhánh sông Hoá bị chặn lại, nước dâng cao khắp vùng, dân bản phải chuyển dời đi nơi khác. Mỏm đồi và cây chè với một vạt nương của nhà Thao cùng ngôi trường tiểu học nhỏ không bị ngập nước, nên thành tên gọi "đảo Chè”. Từ dạo có hồ Cấm, dân trong vùng còn có thêm nghề chài lưới, nhưng thu nhập chính vẫn là ruộng nương.
Cứ vào dịp cuối năm, lúc nước hồ được xả cho miền xuôi cày cấy làm ải, thì dải đất sát mép nước quanh hồ trồi lên. Đất ven hồ xốp, lại nục nạc bởi phù sa bồi đắp. Dân trong vùng lòng hồ bèn chia nhau từng khoảnh, từng đoạn để trỉa ngô, đỗ, lạc, vừng. Đất ven hồ tốt, làm bốn năm vụ cũng chưa phải tra phân. Mùa nước cạn đã thành ngày hội gieo trồng của cư dân vùng lòng hồ.
Việc làm đất phải được chuẩn bị từ cuối năm trước, tức là ngay sau khi nước hồ hạ xuống mức thấp nhất vào độ tiết tiểu hàn. Người ta dùng liềm dao phát dọn và đốt hết những rác rưởi cây que. Đất nương được cày bừa, cuốc xới, vun thành những luống dài mịn màng và thẳng tắp. Vài ngày sau thì tra hạt. Qua tiết đại hàn, trời còn rất lạnh, trên mặt đất có thể còn xuất hiện băng giá, nhưng dường như trong lòng đất sâu đã ấm dần, hạt giống như được báo rằng mùa xuân sắp đến, cựa quậy trở mình. Đến khi lập xuân thì mặt đất nương ven hồ như rải ngọc bởi một màu xanh trắng non mỡn. Chim rừng kéo đàn kéo lũ đến sà xuống mổ. Chim rừng là bọn láu cá. Từ sáng sớm tinh mơ, chúng đã kéo đến nườm nượp, rợp trời. Ngó trước, ngó sau rồi cậy đông, chẳng cần ngó nữa. Chúng sà xuống mổ lấy mổ để thứ mầm mới nhú ngọt như đường... Ấy là thời gian ven hồ xuất hiện những con bù nhìn. Bù nhìn to, bù nhìn nhỏ, ngộ nghĩnh và rất ngộ nghĩnh trong những bộ đồ sặc sỡ, tay cầm kiếm hoặc cờ xí. Có bù nhìn còn diện cả áo comple để dọa chim. Khi lũ chim rừng lao đến, mặc cho chúng nhớn nhác đậu xuống, bù nhìn ta vẫn đứng lặng im giả vờ như ngủ. Bất chợt một cơn gió thổi tới, tức thì mũ nón trên đầu chúng dựng ngược, kiếm vung loạn xạ, cờ xí bay phần phật khiến lũ chim hốt hoảng, ù té bay vù lên kêu choen choét... rộn rã một vùng hồ.
Mùa xuân đến. Sau tiết vũ thuỷ, ngô đỗ trên nương đã trải màu xanh nhạt. Người Nùng bước vào hội hát sloong hao mở đầu bằng phiên chợ tình Thác Lười, kéo dài đến tận cuối tháng Hai. Khi nam nữ khăn gói về bản thì ngô đỗ trên nương cao, ruộng thấp đã cao ngang ngực. Ngày tháng mùa xuân trôi như bay. Thoắt cái đã sắp vào mùa thu hoạch. Giờ đây mây trên trời vần vũ. Chen giữa giá lạnh của sương mù buổi sáng là cái nắng oi nồng của đầu hè. Đâu đó cuối chân trời, những đụn mây đen loé lên ánh chớp cùng tiếng sấm rền vang. Lúc ấy, đỗ trên nương lá rạc đi, lớp lớp đè lên nhau buông những chùm quả chín đen, sai trĩu trịt. Ngàn ngô cũng rực lên sắc vàng ruộm, cây nặng nhọc oằn mình khoe bắp. Dân lòng hồ biết rằng việc thu hái sẽ phải xong trước lũ tiểu mãn. Bởi mưa đầu mùa đang đến. Những cơn mưa đầu hè bao giờ cũng dữ dội. Nước của trăm con suối từ Hộ Đáp sang Tân Sơn, từ Khuôn Sa, Khuôn Vố, Khuôn Miều, từ Mòng, Mấn, Thác Lười đến núi Ba Hòn... nhất loạt dồn về hồ Cấm. Mực nước sẽ dâng cao, có thể nhấn chìm công sức họ bấy lâu nay.
Thao ngồi lặng đi trong khi chiếc thuyền máy vẫn xình xịch chạy. Anh mù mờ nhận ra trạng thái nửa tỉnh nửa mê khi tâm trí lạc mãi vào vùng ký ức. Đã mấy lần anh định giơ tay bám vào mạn thuyền đứng dậy, nhưng không được. Một cơn gió nhẹ bẫng có thể từ trời cao hắt xuống khiến thịt da bỏng rát. Cùng lúc, những tiếng người lao xao như gần, như xa loang nhanh khắp mặt nước hồ. Tiếng người từ nương cao, ruộng thấp, cho đến mặt hồ. Trên mặt nước, tất cả thuyền, mảng đã xếp hàng. Trăm chiếc mái chèo cùng lúc khua rào rào, hối hả. Thuyền đan dọc, thuyền đan ngang trên chất đầy nồi niêu, chăn màn cùng trẻ nhỏ. Cũng từ đó, những đống lửa to nhỏ bắt đầu được nhóm lên, khói bốc mù mịt. Lửa đun nước, lửa thổi cơm, đồ xôi, luộc sắn ngô, cùng nướng cá... theo gió tỏa mùi thơm ngào ngạt. Bóng áo chàm nhấp nhô của người Nùng, người Dao, người Sán Chí, người Sán Dìu, người Kinh... khuôn mặt vùng cao nhìn ai cũng thân quen, giờ đen đúa, nhọ nhĩnh, đầm đìa mồ hôi... Mùi mồ hôi thân thương của vùng cao tỏa khắp vùng đông bắc.
Thao nhận ra chiếc thuyền của cha con anh đã cập vào đảo Chè. Công việc thu hái đòi hỏi họ thật khẩn trương. Trên đồi, cây chè cổ tán rộng cả sào đất đúng kì thu hoạch khoe tua tủa búp non mỡn màu trắng xanh, nếu không hái kịp búp sẽ già. Nương ngô chín vàng rực đang ngấp nghé mép nước, sóng đánh ngả nghiêng. Cha con anh thu dọn qua loa nơi ăn nghỉ trong chòi và lập tức mang gùi, bao xuống bẻ bắp ngô. Cha khỏe lắm, chỉ một lúc đã thu được một đống lớn. Thao cũng phụ cho cha, dồn ngô vào bao tải để chất lên thuyền. May quá, đến giữa buổi lại có người đến tiếp ứng. Đó là mẹ con cô giáo Hân bên trường học, hẳn cô thấy hai cha con vất vả nên sang làm giúp. Cô Hân người miền xuôi lên đây dạy học đã lâu. Hè này hai mẹ con cô không về quê, vì quê cô ở xa. Hình như cô cũng ở lại đợi chú Nam chồng cô đã lâu rồi không về. Ngoài ra còn có con chó xám tên là Bốc. Con Bốc nghịch ngợm như tăng động, suốt ngày sục sạo, chạy tới, chạy lui. Còn nhớ lúc cha con Thao vừa cập đảo nó đã lao tới vẫy đuôi rối rít và sủa vang. Cô Hân dịu dàng ít nói, vóc người dỏng cao, thanh tú. Cặp mắt cô mở to long lanh với đôi má rừng rực như có lửa.

Tranh gò nhôm của họa sĩ Đặng Tuấn
Đảo Chè những ngày vui.
Trong khi hai người lớn tíu tít dưới nương thì Thao được giao cho việc luộc ngô, coi bếp nước và trông em Mến. Cái Mến đã sáu tuổi, tính hay dỗi, hay hờn. Em tuy gầy gò nhưng có khuôn mặt xinh xắn với một chiếc răng khểnh bé tí. Anh em Thao cùng con chó Bốc suốt ngày quấn quýt bên nhau, hết chơi bi lại làm chong chóng gió. Lúc này việc thu hoạch ngô đã xong, nhưng còn một công việc quan trọng nhất là thu hái búp chè. Việc hái chè cũng không đơn giản. Cây chè cổ cao vút, người ta phải chặt cây que buộc thành giàn như giàn giáo của thợ xây để đứng hái. Chè hồ Cấm là giống chè cực quý, mỗi năm cho thu hoạch vài lần nhưng chỉ có vào tiết tiểu mãn là vụ chính. Mùa này, cây chè đón những cơn mưa sớm, búp vươn ra chi chít từ gốc đến ngọn. Búp chè đúng độ non mỡn, dài độ một gang tay. Chè sau khi hái được phơi ra nắng cho cứng, đêm lại phơi sương cho mềm đi. Sau mới cho vào trong chiếc vạc lớn sao đi, sao lại dưới bếp than hồng. Chè thành phẩm được nén chặt vào các chum sành buộc kín để bán và dùng quanh năm. Giá tiền một chum chè ở đây khi đắt nhất có thể mua được một con trâu. Bốc một nhúm chè thả vào nồi nước đun sôi, tức thì nồi nước toả ra hương thơm phức. Uống chè hồ Cấm không dùng chén nhỏ mà dùng bát. Bát nước chè múc ra có màu xanh biếc, sánh đặc tựa mật ong.
Ngày cha con Thao rời đảo, cô Hân đặt một chõ xôi và thịt một con gà to để liên hoan chia tay. Không khí đảo Chè vui như Tết. Trong lúc hai người lớn trong bếp thì lũ trẻ cùng con chó Bốc hò hét và chạy nhổng khắp nơi. Nhưng viên bi ve mắt mèo duy nhất của Mến đựng trong túi áo bỗng rơi đâu mất khiến em khóc oà lên. Nhìn khuôn mặt khốn khổ của Mến, Thao hốt hoảng dỗ dành em, rồi lom khom dán mắt xuống bên lối đi tìm dọc, tìm ngang. Tìm đi tìm lại mãi nhưng viên bi ve đã biến mất.
Không tìm thấy hòn bi ve! Nhưng lúc tìm xuống gần bến nước, Thao bỗng chứng kiến một sự việc động trời: Trên một vạt cỏ, cha cùng cô Hân áo xống hớ hênh đang ôm riết lấy nhau theo cách của vợ chồng. Có tiếng động, cả ba cùng bất giác giật mình, lặng đi, ngơ ngác nhìn nhau... Trong lúc cha anh buông tay, lặng lẽ bỏ đi thì cô Hân vội vàng kéo áo che thân thể lõa lồ, sau sụp xuống ôm mặt khóc hu hu.
Thuyền đã rời đảo Chè. Thao ngồi lặng lẽ như một bao ngô. Quên cả chiếc thuyền nặng mấp mé nước sóng vỗ oàm oạp. Tai Thao u u như loáng thoáng nghe tiếng cha dặn rằng chớ có phô cùng mế. Đã có chút trí khôn, Thao biết mình phải im lặng trước việc làm của cha, bởi nếu không sẽ xảy ra tai họa. Xưa nay, những người đàn bà Nùng khi lấy chồng, họ liền quên mình đi để chịu đựng, san sẻ cùng chồng con mọi buồn vui, sướng khổ. Nhưng họ không bao giờ chịu đựng nổi là sự bội tình. Khi ấy, chắc chắn họ sẽ tìm đến cái chết. Phụ nữ Nùng không bao giờ làm om sòm nhà cửa và chòm xóm, chỉ một mực lặng im. Họ thản nhiên cho đến một ngày sẽ chèo thuyền ra hồ, tìm một nơi vắng vẻ mà trầm mình xuống đáy nước. Hoặc họ tắm rửa sạch sẽ, khoác những bộ cánh đẹp nhất thường mặc vào những ngày lễ hội, lặng lẽ vào rừng sâu nhai lá ngón. Đây là loài lá độc, nhai nuốt vào làm đứt gan, đứt ruột, khiến người ta vật vã đau đớn cho đến lúc tàn hơi. Có những người trong cơn uất ức đã cả gan đi lên núi Ba Hòn. Họ leo đến đỉnh núi cao ngất, nơi có những tảng đá khổng lồ, trơn tuột chồng lên nhau trước một vực sâu không đáy. Ở đây, họ đứng nhìn tứ phương, lạy tạ trời đất rồi gieo mình xuống vách đá cho thịt nát, xương tan.
Mấy ngày sau, cha lại một mình chèo thuyền sang đảo, nói rằng để làm nốt công việc. Thao hiểu rằng cha sang đó để tìm gặp cô Hân, hẳn cha tin rằng mế chưa biết chuyện ấy. Nhưng linh tính của đàn bà Nùng thật kỳ diệu. Mế dường như đã biết tất cả bởi ít ngày sau tiết tiểu mãn, mế bắt đầu bỏ ăn và ngồi thức trắng đêm. Bà mẹ chồng đã nhận thấy sự thất thường của nàng dâu. Khi thấy nàng ta gầy rộc, ánh mắt thất thần, lại thường xuyên gội đầu, chải tóc và mở rương ướm quần áo mới thì kinh hãi nghĩ đến điều chẳng lành. Nhưng đã quá muộn. Một buổi sớm, cả nhà nháo nhác khi mế đã bỏ nhà ra đi chả biết từ lúc nào. Trên chiếc nệm vải sồi, một lọ nước cháo còn ấm đặt cạnh đứa con gái bé chưa đẫy năm vẫn lăn lóc ngủ khì. Trên gối của mế có một chiếc khăn bông bay thơm thơm của phụ nữ được gấp thật cẩn thận. Thao rùng mình nhận ra đó là chiếc khăn quàng cổ của cô Hân.
Cha Thao gầm lên, quáng quàng chạy quanh nhà. Hết lao xuống bờ hồ lại vòng lên sườn dốc. Vừa chạy, ông vừa điên dại gào thét gọi tên vợ làm náo động một vùng hồ. Thanh niên trai tráng bản đổ ra đường. Họ hô hoán, chia nhau từng toán đổ đi sục sạo tìm mế. Một ngày, hai ngày, đến ngày thứ ba họ cũng vực được mế về nhà. Người ta đặt mế nằm trên chiếc chõng ngoài sân. Khuôn mặt mế vẫn tươi tỉnh trong khi hơi thở phập phồng, nặng nhọc. Nước mắt mế trào. Nhưng trong cơn nấc biệt ly, cặp môi nhợt nhạt ấy như nở một nụ cười. Mế ra đi bỏ lại mẹ chồng già cùng bốn bố con Thao.
Mế mất. Những cây tiền, cây bạc được dân bản dựng lên. Thầy Tào cùng bầu đoàn thê tử kéo đến. Khói hương nghi ngút. Tiếng trống tung tung, cắc cắc. Tiếng thanh la, lão bạt, chũm choẹ, xập xoè cúng ma suốt ngày đêm. Người ta cậy miệng mế ra đặt vào đó một đồng tiền xu, dúi vào bàn tay đã buông xuôi tờ phan. Tờ giấy này do thầy Tào soạn ra dùng làm giấy thông hành, để cho mế trình báo khi sang với thế giới khác. Ngày hôm sau, người ta khiêng quan tài mế đi chôn ở một triền đồi cỏ ven hồ. Nơi đây gió thổi mát quanh năm.
Quá xót thương vợ, một ngày cha Thao lôi chiếc thuyền gỗ từng sang đảo Chè lên bờ, dùng rìu bổ tan tành rồi chất lửa đốt. Ông cũng thề rằng sẽ không bao giờ qua lại đảo Chè nữa. Và ông đã làm được, còn Thao thì không.
Vào một ngày đầu thu, chiếc ca nô của hải quân chạy tới các bản nhỏ ven hồ đón thanh niên lên đường nhập ngũ. Đất nước hồi ấy đang chiến tranh. Thao cùng trang lứa tạm biệt vùng lòng hồ ra đi. Chiếc ca nô chở Thao cùng các trai bản chạy lướt ven đảo Chè. Đã mấy năm không đến đây kể từ tiết tiểu mãn năm ấy... trong thâm tâm anh vẫn nhớ đảo, vẫn thương cô Hân cùng bé Mến sống cô đơn giữa bốn bề sóng nước. Ít lâu sau ngày mế mất có tin mẹ con cô Hân đã về xuôi, trường tiểu học cũng chuyển đi nơi khác. Giờ đây, anh xót xa nhìn hòn đảo tiêu điều, hoang vắng. Nương ngô xưa không ai thu dọn giờ rác củi lổn nhổn, cỏ sậy mọc lút đầu. Ngôi trường mái ngói đỏ xinh đẹp thuở nào bị bỏ hoang, cỏ dại và dây leo mọc tận nóc. Cây chè cổ không người thu hái, cắt tỉa, bị bão giông vặn gãy cành sụp xuống để dây dại leo trùm kín, trông tăm tối tựa một nấm mồ.
Nỗi niềm của vùng lòng hồ theo bước chân Thao xuôi ngược khắp vùng. Từ lúc còn là người lính giữa Trường Sơn đến thời hoà bình Thao chuyển ngành về sinh sống ngoài thành phố. Bao tâm sự vui buồn, cay đắng của một thời vẫn không ngừng giày vò, đày đọa trái tim anh. Đã nhiều lần Thao nhủ mình hãy là kẻ trưởng thành, hãy quên đi thời lòng hồ với ký ức buồn đau cho tâm hồn thanh thản. Nhưng sống ở đời thật khó. Điều muốn nhớ lại thường trôi tuột đi, trong khi những điều muốn quên lại như đã hằn sâu trong tâm trí, len lỏi vào cả giấc mơ. Những giấc mơ hàng đêm của Thao thường không đầu, không cuối. Khi vui, khi buồn. Lúc tìm ngược về quá khứ, lúc hướng tới vị lai. Như thể những khát vọng trong anh luôn cố quẫy đạp, vùng vẫy hòng thoát khỏi định mệnh.
Đến một ngày, Thao cùng trai bản chen chân đến hội hát sloong hao và anh bặt gặp Mến ở đó. Đúng hơn là họ chợt nhận ra nhau. Mến đã thành thiếu nữ với dáng người mỏng mảnh, yêu kiều nom từa tựa cô Hân. Em cúi đầu bẽn lẽn làm cho khuôn mặt đẹp mê hồn. Chiếc răng khểnh ấy giờ khiến nụ cười em bừng sáng làm trái tim Thao loạn nhịp. Thao tiến đến gần Mến định hỏi câu gì đó làm em hoảng hốt lùi lại, chạy đi. Giây lát, bóng Mến hoà lẫn vào bóng các thiếu nữ đang cười vui, rộn rã. Thao cuống quýt đuổi theo, nhưng như trò chơi trốn tìm, bóng Mến cứ ẩn hiện giữa một rừng áo chàm, áo hoa... của hội hát. Vào lúc Thao đứng đờ ra như thể vừa đánh mất vàng thì mế chạy đến. Bằng cách nào đó, mế đã dắt được Mến đến trước mặt Thao, bà đặt bàn tay Mến vào trong tay anh. Thao thẫn thờ nâng nhẹ đôi bàn tay nhỏ bé ấm áp, thơm tho. Mến nép vào vòng tay anh trong lúc đôi mắt em nhòa lệ. Thao hôn lên đôi mắt ngọc và cặp môi mềm ướt của em dường như còn phảng phất mùi sắn nướng. Tay trong tay, họ bước ra trong tiếng vỗ tay rào rào của quan khách trong tiệc cưới vùng cao đang từng bừng náo nhiệt. Bên nhà trai, cha tươi cười đứng cạnh mế cùng hai đứa em Thao áo quần xúng xính. Phía bên nhà gái, chú Nam đeo kính trắng, oai vệ trong bộ lễ phục sĩ quan hải quân. Cô Hân mặc áo dài tha thướt đứng cạnh chồng với cặp mắt long lanh, đôi má cô hồng rực như lửa cháy. Đôi trẻ nắm chặt tay nhau rời tiệc cưới, cùng sóng đôi lướt băng băng trên mặt nước hồ xanh biếc. Hồ Cấm dậy sóng, những con sóng nối nhau tung mình hò nhau đuổi theo gót chân của cặp vợ chồng son. Tinh nghịch như con trẻ, họ trút bỏ bộ đồ cưới, rủ nhau lặn xuống làn nước mát lạnh, rướn mình bơi đuổi theo đùa nghịch cũng lũ cá to, cá nhỏ màu sáng bạc đang bơi vun vút. Thú vị nhất là đứng dưới đáy hồ nhìn ngược lên mặt nước. Họ nhận thấy mặt trời thực ra màu vàng nhạt. Ở phía sau là vòm trời cao màu xanh đen, lấp lánh muôn ngàn tinh tú. Họ phì phò nổi lên mặt nước trong tiếng con chó Bốc sủa vang trên đảo Chè. Ở đây, đôi tân lang và tân nương bàn nhau phải đi tìm cho bằng được viên bi ve mắt mèo thuở trước. Đúng vậy! Phải tìm cho ra để làm món quà tặng cho đứa con đầu lòng sắp ra đời bất kể là trai hay gái. Tiếc rằng vào lúc đó mây trên trời rớt xuống. Một đám mây trắng có hình vẩy con tê tê bị thiếu gió nên sa xuống mặt đất. Một đụn mây sà xuống đảo Chè ngay sát cạnh chân hai người. Đôi trẻ ngỡ ngàng nhận ra mây thực ra là bông, họ liền bước vào ngồi trên đụn bông êm mượt ấy. Giây lát, một cơn gió lốc nâng họ bay vút lên tận trời xanh. Từ trên cao nhìn xuống, hồ Cấm nhỏ dần, lúc đầu lớn bằng một vạt nương, khi lên cao hơn nữa hồ chỉ bằng một vuông vải, rồi nhỏ xíu như một giọt nước. Giọt nước long lanh nhìn tựa một trái tim.
...
Thao lười nhác ngồi dậy khi chiếc thuyền máy chở đoàn du khách quay lại bến. Trong ráng chiều đỏ ối, anh nhận ra đảo Chè ở phía xa xa. Đảo vẫn như xưa với những lùm cây cao thấp nhấp nhô. Giờ nhìn tựa một người ngồi thu lu trên mỏm đất giữa hồ đang phó thác số phận mình cho mây nước. Trong lơ đãng, Thao buông tiếng thở dài. Nhưng thật bất ngờ vào lúc ấy, anh bỗng nhỏm người bật dậy, chớp chớp mắt bởi chính anh nhìn thấy trên đảo Chè một vật vừa loé sáng. Đúng vậy, một tia sáng lạ kỳ. Trái tim anh bỗng quặn thắt, rồi vỡ oà trong một ý nghĩ cũng lóe nhanh như tia chớp. Đúng rồi, phải chăng đó chính là viên bi ve mắt mèo của em đã thất lạc trong tiết tiểu mãn năm nào. Sau cuộc ú oà buổi hoa niên, bi ve mắt mèo vẫn nằm cô đơn trên đảo. Bao năm trằn trọc, khắc khoải chờ đợi người về, giờ cất tiếng gọi anh.
Thao chợt ngộ ra tất cả. Anh nhận ra anh thật lỗi lầm và đáng trách biết bao. Bấy lâu anh đã bỏ rơi nơi chôn nhau cắt rốn trong cuộc mưu sinh, cuộc kiếm tìm danh lợi, bạc tiền. Để đạt được điều ấy, những người như Thao phải quên đi tất cả, sẵn sàng khom lưng làm tôi tớ, nô bộc cho danh vọng, bạc tiền. Đến một ngày, khi đã có một chút danh lợi nào đó, họ biến mình thành lớp thị dân mới chảnh choẹ, kiêu căng, thành lũ người vong bản. Với những kẻ ấy thì quê hương bản quán nhất là vùng cao với họ giờ như một sự tủi hổ, hủ lậu, tầm thường... rất đáng quên.
Cũng bấy lâu, vùng cao ven lòng hồ đói cơm rách áo ấy vẫn vật vã trong cuộc mưu sinh. Mồ hôi, nước mắt của dân lòng hồ vẫn đổ ròng ròng trên ruộng nương, mặt nước. Những mùa thu hoạch tiết tiểu mãn vẫn đang về... bộ mặt hồ Cấm ngày một đổi mới khác xưa. Tình người vùng cao vẫn thế, chân thành và nhất mực thuỷ chung. Hẳn mẹ hồ Cấm bấy lâu nay vẫn dõi theo những đứa con đi xa trong mỏi mòn thao thức. Mẹ sẽ sung sướng biết bao khi chúng lại trở về trong thành tâm hối lỗi, trong tâm tình hòa giải... đại để là hàn gắn, băng bó những vết thương.